(VNF) – Ngành dệt may Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn để mở rộng thị trường xuất khẩu sang các quốc gia thuộc Hiệp hội Thương mại Tự do Châu Âu (EFTA) khi FTA Việt Nam – EFTA chính thức có hiệu lực. FTA này dự kiến sẽ mang lại nhiều lợi thế cho ngành dệt may, đặc biệt là thông qua các cam kết về mở cửa thị trường, quy tắc xuất xứ, và các quy định khác.
Ưu đãi thuế quan và quy tắc xuất xứ thuận lợi
Các cam kết về mở cửa thị trường trong Hiệp định VEFTA được tham chiếu tương tự như các cam kết trong Hiệp định EVFTA (Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và EU), đồng thời sẽ dựa trên các quy định nội khối EFTA đối với sản phẩm dệt may. Theo đó, EU cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi hiệp định có hiệu lực cho các loại nguyên phụ liệu dệt may.
Ngoài ra, một số ít loại trong các nhóm sản phẩm may mặc như bộ đồ vest hoàn chỉnh, đồ ngủ nữ, áo len trẻ em, đồ bơi, chăn, rèm cửa, túi xách hoặc túi đựng bằng vải cũng sẽ được loại bỏ thuế nhập khẩu ngay lập tức. Đối với phần lớn các sản phẩm may mặc và sản phẩm tương tự, thuế nhập khẩu sẽ được loại bỏ dần từ mức trung bình 12% xuống 0% trong thời hạn từ 3 đến 7 năm kể từ ngày EVFTA có hiệu lực.

Về quy tắc xuất xứ, Hiệp định áp dụng tiêu chí hai công đoạn, nghĩa là vải sử dụng để cắt may phải có xuất xứ từ Việt Nam hoặc EU. Tuy nhiên, hai bên cũng thống nhất một cơ chế linh hoạt là các nhà sản xuất của Việt Nam và EU có thể nhập khẩu nguyên liệu từ các nước mà cả Việt Nam và EU cùng ký kết FTA, kể cả hiện tại và trong tương lai (ví dụ từ Hàn Quốc, hoặc một số nước đang đàm phán như Nhật Bản hoặc một số thành viên ASEAN) để sản xuất hàng dệt may và sản phẩm dệt may này vẫn được coi là có xuất xứ, và do đó được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu và tối ưu hóa chuỗi sản xuất.
Về hàng rào kỹ thuật (TBT), EVFTA chủ yếu bao gồm các cam kết chung hợp tác, minh bạch hóa trong lĩnh vực này. Không có cam kết nào cụ thể liên quan tới các biện pháp TBT có thể ảnh hưởng tới dệt may ngoại trừ các cam kết về ghi nhãn hàng hóa, hợp tác trong việc công nhận các quy trình đánh giá sự phù hợp của mỗi bên và hậu kiểm. Đối với Việt Nam, cam kết chấp nhận xuất xứ hàng hóa ghi chung “Made in EU” hoặc ghi rõ xuất xứ từng nước trong EU đối với hàng hóa công nghiệp (trong đó có dệt may).
Như vậy, về cơ bản, khi EVFTA có hiệu lực, EU và Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục chủ động trong việc áp dụng các biện pháp TBT đối với hàng nhập khẩu như hiện tại. Doanh nghiệp xuất khẩu vẫn sẽ phải tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của bên nhập khẩu như trước đây.
Đối với khối EFTA, không có quy định riêng cho nhập khẩu hàng dệt may, hầu hết các quy định này tuân theo yêu cầu chung của EU. Một số quy định bao gồm các yêu cầu pháp lý bắt buộc và các yêu cầu phi pháp lý bắt buộc.
Nhu cầu thị trường EFTA và đối thủ cạnh tranh
EFTA là nhóm nước nhỏ nhưng quy mô thương mại quốc tế tương đối lớn và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thương mại châu Âu. Tuy dân số chỉ trên 14 triệu người nhưng các nước EFTA có GDP tới hơn 1.400 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người trên 95.000 USD. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2023 khoảng trên 1.100 tỷ USD, trong đó nhập khẩu hàng hóa từ thế giới khoảng trên 450 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bình quân của cả khu vực trong 5 năm qua đạt 5,5%.
Tuy nhiên, nguồn nhập khẩu của EFTA chủ yếu đến từ khu vực EU27, chiếm trên 50%, riêng Liechtenstein tỷ trọng nhập khẩu từ các nước EU27 chiếm trên 80%. Thụy Sĩ và Na Uy là hai nền kinh tế có quy mô lớn nhất khu vực EFTA. Thương mại của Thụy Sĩ chiếm 65%, với nhập khẩu chiếm 75% tổng khối lượng nhập khẩu của cả khu vực EFTA.
Nhập khẩu các sản phẩm dệt may của khối EFTA chiếm khoảng 4% tổng giá trị các sản phẩm nhâp khẩu của toàn khối. Với Thụy Sĩ là thị trường chiếm thị phần nhập khẩu lớn nhất trong khối, nhập khẩu các sản phẩm dệt may từ thế giới của Thụy Sĩ khoảng hơn 10 tỷ USD mỗi năm, tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 2019-2023 đạt 3,6%.

Từ năm 2020, tốc độ nhập khẩu các sản phẩm dệt may của nước này giảm mạnh. Với hai mã sản phẩm dệt may mã HS 61 (Các sản phẩm may mặc và phụ kiện quần áo, không dệt kim hoặc móc) và 62 (Các sản phẩm may mặc và phụ kiện quần áo, dệt kim hoặc móc) là những mặt hàng Việt Nam có lợi thế lớn nhất vào khu vực EFTA.
Với Việt Nam, Thụy Sĩ nhập khẩu khoảng 430 triệu USD các sản phẩm dệt may, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao (10%) so với tăng trưởng nhập khẩu của Thụy Sĩ từ thế giới với sản phẩm này trong giai đoạn 2019-2023. Về tỷ trọng, nhập khẩu các sản phẩm dệt may của Việt Nam chiếm gần 4% tổng nhập khẩu các sản phẩm này từ thế giới của Thụy Sĩ.
Đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam tại thị trường EFTA là Trung Quốc, Bangladesh và Thổ Nhĩ Kỳ. Đối với hai mã sản phẩm dệt may mà Việt Nam đang có lợi thế xuất khẩu, Trung Quốc hiện là đối tác cung cấp lớn nhất cho Thụy Sĩ, thị trường nhập khẩu dệt may hàng đầu trong khối EFTA.
Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc vào Thụy Sĩ đạt 2,2 tỷ USD trong năm 2023, chiếm tới 26% tổng thị phần nhập khẩu dệt may của Thụy Sĩ từ toàn cầu. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu của Trung Quốc đang giảm đi và thấp hơn nhiều so với các đối tác còn lại.
Bên cạnh đó, Ấn Độ cũng là một đối thủ cạnh tranh tiềm năng của Việt Nam đối với sản phẩm dệt may sang thị trường EFTA nhờ việc đã ký kết FTA với Thụy Sĩ và Hiệp định Đối tác Thương mại và Kinh tế với khối EFTA (TEFA) tháng 3/2024. Hiệp định thương mại với EFTA dự kiến sẽ thúc đẩy quá trình hiện đại hóa ngành dệt may Ấn Độ.
Trong khối, Thụy Sĩ là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ, tiếp theo là Na Uy. Ấn Độ nhập khẩu công nghệ và máy móc từ Thụy Sĩ, trong khi Thụy Sĩ đóng vai trò là người mua nguyên liệu thô và sản phẩm trung gian để chuyển hóa thành sản phẩm cuối cùng chất lượng cao và bền vững. Liên đoàn Công nghiệp Dệt may Ấn Độ đã thúc giục chính phủ đẩy nhanh việc ký kết FTA với Thụy Sĩ để tận dụng những lợi ích chung này và thúc đẩy hơn nữa sự tăng trưởng của ngành dệt may Ấn Độ.
Ngoài ra, bằng cách thiết lập sự hiện diện tại các quốc gia EFTA, các công ty Ấn Độ có thể hưởng lợi từ việc tiếp cận miễn thuế vào thị trường châu Âu rộng lớn hơn, có được những hiểu biết sâu sắc có giá trị về sở thích của người tiêu dùng châu Âu và có khả năng xây dựng mối quan hệ bền chặt hơn với người mua châu Âu.
Việc ký kết FTA Việt Nam – EFTA sẽ mở ra một cánh cửa mới cho ngành may mặc tiếp cận thị trường có sức mua cao và tiêu chuẩn nghiêm ngặt. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ dành cho những doanh nghiệp đủ khả năng thích ứng – từ việc hiểu rõ quy tắc xuất xứ đến đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và đạo đức.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các đối thủ như Trung Quốc, Bangladesh hay Ấn Độ, việc đầu tư vào chất lượng, công nghệ và chuỗi cung ứng bền vững chính là chìa khóa giúp ngành may mặc Việt Nam nâng tầm trong mắt người tiêu dùng EFTA.

